Trẻ khác biệt trong lớp học và cách tiếp cận

Trẻ khác biệt và những khuôn mẫu của giáo viên

Trong một nhóm từ 5 đến 7 trẻ, có thể nhận ra một học sinh khác biệt trong đó. Tuy nhiên, mỗi giáo viên sẽ tìm thấy trong nhóm trẻ đó một học sinh khác biệt. Điều này tùy vào mỗi lăng kính hoặc từng khuôn mẫu mà giáo viên định hình, Nói cách khác, đó là học sinh nằm ngoài định hình của giáo viên về khuôn mẫu của một đứa trẻ bình thường.

Có người thấy một đứa trẻ trầm ngâm, ít nói là khác biệt. Có người lại thấy một đứa trẻ luôn chơi một mình một góc, một mình một trò là khác biệt. Cũng có người lại thấy một đứa trẻ tăng động, luôn nhảy nhót, trêu chọc bạn, không chịu làm bài, … là khác biệt.

Dù thế nào, trầm ngâm hay hoạt náo, ngồi yên hay quậy phá, thì đó cũng chỉ đơn giản là một hành động thu hút sự chú ý của người khác. Ẩn sâu trong sự khác biệt đó là một khát khao được quan tâm. Hoặc đơn giản là một sự cô đơn, yếu đuối, một nỗ lực được chứng tỏ mình. Những phương pháp, hình thức dạy học dành cho đa số đối tượng, có thể sẽ không phù hợp hoặc không hiệu quả đối với những học sinh như vậy.

Tiếp cận trẻ khác biệt
Trẻ khác biệt

Trẻ khác biệt và cách tiếp cận

Việc giáo dục để tiếp cận và dạy dỗ những học sinh khác biệt này là bài toán cho mọi giáo viên. Cần cho em cảm nhận được tình yêu và sự quan tâm, chú ý của thầy cô. Cũng cần cho em không thấy mình lẻ loi trong lớp. Cũng không để ảnh hưởng đến nhịp học tập của những đứa trẻ xung quanh .

Vốn dĩ giáo dục đã không có khuôn mẫu. Giáo dục cũng không phải là một dây chuyền sản xuất ra những sản phẩm đồng loạt. Mỗi giáo viên được trang bị các phương pháp, hình thức dạy học khác nhau để tiếp cận vào năng lực từng học sinh. Nhưng vào thực tế từng trường hợp lại rất linh hoạt. Gặp mỗi trường hợp là một cách thức tiếp cận và phương pháp giáo dục khác nhau.

Vì vậy, khi tiếp cận với những học sinh như thế, giáo viên không nên trông đợi vào phương pháp hay cách thức chung nào đó. Cần phải tự tìm ra cho mình một cách giải quyết phù hợp với mỗi đối tượng. Nói dạy học cần công bằng. Thực tế, để tiếp cận được từng năng lực cá nhân của mỗi cá thể, sự không công bằng của giáo viên lại là điểm mấu chốt. Dù thế nào, giáo viên vẫn cần lưu ý những điều sau:

Hãy kiên nhẫn quan sát trẻ để xác định cách thức trẻ lựa chọn để biến mình thành trẻ khác biệt

Cần một khoảng thời gian, một số hoạt động để học sinh thể hiện hành động của mình. Khi muốn thu hút sự chú ý từ phía giáo viên, các em sẽ biết cách tạo khác biệt trong mỗi hoạt động. Cách thức đó sẽ được lặp đi lặp lại nhiều lần trong mỗi hoạt động. Có trẻ hướng tới sự ồn ào, hoạt náo, quậy phá, có trẻ thực hiện nó trong sự trầm ngâm, lặng lẽ, tách biệt, …

Sự tĩnh lặng, quan sát từ tốn từ phía giáo viên nhằm mục đích không gây cho trẻ sự chú ý. Hãy để các em bộc lộ hết những suy nghĩ của mình trong từng hành động. Từ đó, giáo viên sẽ định hướng được những ứng xử phù hợp.

Tạo cơ hội để được gần gũi và lắng nghe những suy nghĩ của những trẻ khác biệt

Cơ hội là công bằng với tất cả học sinh. Nhưng đôi khi, cần một sự thiên lệch với những đứa trẻ này. Từ sự quan sát của mình, giáo viên có thể tạo ra cơ hội để các em được nói ra suy nghĩ. Có nhiều cách thức tiếp cận để đến với cơ hội. Giáo viên có thể đưa một tình huống chung trên lớp. Cũng có thể vô tình khoác vai em mà thủ thỉ. Cũng có thể lấy cớ chỉnh trang trang phục hoặc buộc tóc cho em. Cũng có thể nhờ em thu một vài quyển vở.

Mọi hành động nhỏ nhặt nhất đều là cơ hội tiếp cận trẻ của giáo viên. Mục đích chỉ là thầy cô thể hiện được sự gần gũi, quan tâm. Từ đó kích thích mong muốn được nói, được giãi bày của học sinh.

Tìm ra ưu thế của trẻ khác biệt

Những cơ hội giáo viên tự tạo dựng chính là cơ hội tương tác cùng trò. Nên mở rộng đối tượng dần dần trong mỗi cuộc trò chuyện. Từ những lần thủ thỉ hai cô cháu, đến những lần trò chuyện đông hơn. Thêm một bạn, hai bạn, rồi thêm một nhóm cùng học cùng chơi. Việc làm này chiếm nhiều thời gian để tạo được sự hòa nhập nên cũng yêu cầu cao ở sự nhiệt tình của giáo viên.

Trong mỗi cơ hội, giáo viên cần quan sát, phân tích và tổng hợp tỷ mỷ. Từ đó, hình dung một thế mạnh của học sinh khác biệt. Không nên khuôn mẫu gò ép thế mạnh này phải là những ưu thế về các môn học. Làm hoa đẹp, chơi cờ caro giỏi, biết vẽ và rất thích vẽ, thích chơi lego, thích đọc truyện, … Tất cả những gì em thực hiện giỏi, làm giỏi được gọi là ưu thế của trẻ.

Từ việc phát hiện những ưu thế của trẻ, giáo viên có thể khéo léo lồng ghép vào các hoạt động trong lớp. Có thể sử dụng một học sinh giỏi chơi lego để tạo ra một mô hình thay thế đồ dùng học tập. Có thể sử dụng một học sinh giỏi chơi cờ caro trong việc phát động phong trào thể dục thể thao, … Thực tế, mỗi ưu thế của các em là một lối tư duy khác biệt cần được tôn trọng.

Hoạt động cùng trẻ trên những ưu thế các em sẵn có

Mỗi một ưu thế của trẻ là một trong những mục tiêu ứng dụng cuộc sống. Em thích chơi lego sẽ phát huy khả năng lắp ghép tưởng tượng. Từ đây, nảy sinh tư duy từ trong các môn Toán, Kỹ thuật; Em thích chơi cờ caro, là khả năng logic để thiết kế. Nó giúp các em tạo dựng một bước đi trên nền tảng các bước đi nhỏ đã được chuẩn bị. Ưu thế này phù hợp với các môn Khoa học, Tự nhiên xã hội, Toán, … (Tham khảo bài viết Phương pháp của người thông minh; Bí quyết ghi chú bằng sơ đồ tư duy)

Như vậy, mỗi ưu thế của một cá nhân hoàn toàn có thể áp dụng để giải quyết một vấn đề học tập. Khó khăn cho giáo viên là khả năng vận dụng chúng vào từng môn học. Chuyển hóa những ưu thế ấy thành từng tình huống học tập cụ thể là khó. Tuy nhiên, điều dễ là khả năng khơi gợi ham muốn của học sinh về học tập. Nên sử dụng các trò chơi liên quan đến những ưu thế của các em. Vì vậy, thật đơn giản nếu bắt đầu hoạt động học tập bằng những trò chơi em thích và người đồng hành là giáo viên.

Ra điều kiện đối với trẻ

Quá trình tìm hiểu, tiếp cận đối với học sinh, chơi cùng học sinh để dẫn đến sự hòa nhập của học sinh đó với lớp. Khi hứng thú được khơi gợi, giáo viên nên tác động thêm sự khát khao, mong muốn được thể hiện mình của các em. Có thể tác động bằng những điều kiện liên quan đến học tập với các môn học khác nữa.

Chẳng hạn: cô trò sẽ tiếp tục chơi sau khi mình hoàn thành bài văn. Hoặc để chơi giỏi cần có thêm kiến thức của môn này,… Giáo viên nên đưa những điều kiện học tập nho nhỏ, phù hợp sức để học sinh đáp ứng. Trước khi được thỏa mãn hứng thú của mình, học sinh sẽ phải thực hiện điều kiện đó. Dần như vậy sẽ mang em đến với hoạt động nhóm cùng các bạn xung quanh.

Thể hiện tình yêu thương ở mọi lúc, mọi nơi

Có vẻ không công bằng khi giáo viên đặt hết sự quan tâm của mình cho một vài học sinh cá biệt trong lớp. Tuy nhiên, sự công bằng  đạt được khi sự quan tâm đặc biệt đó lại được đặt đều cho từng nhóm học sinh giống nhau trong lớp.

Sự công bằng ấy đã nhân gấp nhiều lần tâm huyết của các thầy cô giáo. Khi về nhà, học sinh sẽ hào hứng kể lại những trải nghiệm trong ngày. “Hôm nay cô con bảo đừng bỏ đồ ăn thừa xuống bàn”. “Hôm nay cô giáo buộc tóc cho con đấy”. “Hôm nay cô nghe con kể chuyện”, … Cứ mỗi lần lặp lại là sự quan tâm của giáo viên với con. Đôi khi là những câu nói vui vẻ kể lại những lúc trên lớp, …

Đó chính là phần thưởng cao quý của thầy cô. Đó cũng là những viên gạch niềm tin vững chắc mà phụ huynh học sinh đặt vào thầy cô. Từ niềm tin đó, tình yêu thương của các cô sẽ được phụ huynh học sinh cảm nhận từng chi tiết.

Để có được thành công, ngoài sự nỗ lực của giáo viên, cần có cả sự phối hợp của phụ huynh. Bố mẹ nên tìm hiểu để trang bị những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho con. Tham khảo một số bài viết ở đây